Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Nhận thức Luận Phật



MỤC LỤC

2.Thiền Quán Bát Nhã. 5



















I.Dẫn nhập
   Ấn độ cổ đại là một vùng đất thuộc Nam Châu Á, vì vùng phần lãnh thổ rộng lớn cho nên đặc điểm khí hậu đất đai cũng rất đa dạng. Ấn độ là một quốc gia sở hữu nhiều dãy núi hùng vĩ tráng lệ trong dãy Hymalaya kéo dày hơn hai ngàn Km. Dãy Hymalaya được mệnh danh là nóc nhà thế giới. Đây là yếu tố địa lý có ảnh hương sâu dẫn tới quá trình hình thành trong sự phát triển tôn giáo, triết học của người Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên nhơn tố có ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình này là nhân tố kinh tế- xã hội.Phật giáo cũng là một tôn giáo của Ấn Độ và  thế giới. Khi xuất hiện thì Phật giáo đã đem laị những cái nhìn hết sức mới về nhân sanh và vũ trụ.Tín ngưỡng bản địa của Ấn Độ là tín ngưỡng thần quyền, thờ cúng rất nhiều các vị thần. Đạo Bà-la môn là một tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội Ấn hang ngàn thế kỷ. Vì thế khi Phật giáo xuất hiện và phát triển thì cũng có những những điểm giống đối với Đạo này.Cách hiểu của các vị đệ tử Phật xuất hiện từ giai cấp Bà-la -môn cũng còn mang ít nhiều hệ thống tư tưởng của tôn giáo này. Vì lý do đó mà người viết đã chọn chủ đề “Nhận Thức Luận Qua Kinh Sách Phật Giáo”nhằm làm sang tỏ thêm cho người mới học Phật có cái nhìn đúng về Đạo Phật.Trải qua một thời gian dài phát triển qua nhiều quốc gia nên cách nhận thức của con người đối với Phật giáo cũng khác biệt đối với thời Đức Phật. Đó cũng chính là điều tất nhiên trong tiến trình phát triển Triết học của Phật giáo nhằm cứu vớt con người ra khỏi sông mê đau khổ.Giới hạn của đề tài là người viết chỉ tình bày nhận thức của Phật giáo về Thiền quán Bát nhã trong các kinh luận Bắc Tông. Nguồn viết tiểu luận thì rất nhiều nhưng chính yếu thì những kiến thức mà giảng viên đứng lớp trao tuyền và các kinh sách có lien quan như  “Kinh Kim Cang”, “Kinh Lăng Già”, “Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”, “Pháp Bảo Đàn Kinh”… Với sở học còn non kém, nhận thức chưa sâu, con kính mong giáo thọ sư chỉ giáo để luận văn đầy đủ và sáng tỏ thêm. Từ mục đích và phương pháp nghiên cứu như đã trình bày ở trên.










II.Nội Dung
1.Khái quát về nhận thức luận Phật giáo.
   Nhận thức luận hay tri thức luận là ngành triết học nguyên cứu về bản chất, nguồn gốc, và phạm vi của tri thức. Trong lịch sử của triết học thì nhận thức là một ngành được tranh luận và nguyên cứu nhiều nhất. Phần lớn tranh luận tập chung vào hai chủ đề chính là phân tích bản chất và sự đa dạng của tri thức cũng như mối quan hệ của nó với các khái niệm tương tự như chân lý và niềm tin. Nhận thức nói một cách đơn giản chính là biết rõ về một lãnh vực nào trong cuộc sống. Nói đến nhận thức thì phải nói đến hành động, ngôn ngữ và lý luận. Giáo lý Tứ Đế mà đức Phật nói cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn chính là khuôn mẫu về ngôn ngữ và lý luận.
Nhận thức của Phật giáo được Ngài Nguyệt Xứng (Dharmakirti) nói: “Mọi hành động thành công là nhờ trước đó nhận thức đúng, vì vậy chúng ta bắt đầu khảo sát điều đó”( Nyàya-bindu; Chánh lý nhất trích luận).Như vậy nhận thức luận Phật giáo chính là chú trọng khảo sát và hành động phát hiện mối qua hệ giữa nhận thức và đối tượng nhận thức. Hàng ngày chúng ta tiếp xúc với biết bao thông tin, và phải xử lý chúng, coi chúng là sự thật hiện hữu dù ta có chú ý đến chúng hay là không. Khi sáu căn tiếp xúc với ngoại cảnh thì nhận thức về sự vật ấy qua hình dáng và phân tích sự vật. Cảm giác về sự hiện hữu khách quan đó được nới rộng ra cho phẩm tính của sự vật ấy.Ta cho rằng sự vật có kích thước có khối lượng là điều hiển nhiên mặc dầu ta có nghĩ đem những phẩm tính ấy ra đo lường. Ta gán cho sự vật một thể tính khách quan.Với kinh nghiệm như vậy nên từ lâu ta đã có lối tư duy cho rằng những kinh nghiệm mà ta tiếp nhận qua giác quan hay tưởng qua kinh nghiệm đều là thực. Như khi ta ngắm bông hoa thì ta có cảm tưởng là cảm giác , tri giác và ý thức của ta cùng tồn tại với sự hiện diện của bông hoa cùng tồn tại như nhau về thời gian.Thực ra thì không phải là một cảm giác,một tri giác và một ý thức thức tồn tại mà hàng loạt cảm giác, tri giác và ý thức cùng nhau phát sinh ra, chúng nói tiếp với nhau như những đợt sóng.
Lối quan niệm thực tại theo bản chất của sự vật đã được các triết gia Đông Tây bàn cãi với những ý kiến khác nhau, đôi khi tái ngich với nhau.Vấn đề có hay không có thực tại khách quan không bao giờ có được bởi những người tranh cải không đồng ý mọi tiêu chuẩn giống nhau để đem ra áp dụng. Những chuổi dài quanh co lý luận , suy tưởng những gì quán sát được và những thành quả kết thúc cuộc tranh cãi.Từ Xưa đến nay chỉ có Phật giáo là định nghĩa rõ ràng những tiêu chuẩn khảo sát và phê bình tính xác đáng và quan trọng từng hiện tượng tâm nối tiếp  sinh khởi, bắt đầu tác ý, đến xúc, thọ, tưởng, tư, và đến cuối cùng về hiện hữu là gì.
Theo Ngài Pháp Xứng thì , sự vật thật là sự vật có khả năng tính tác dụng nơi ta trở thành đối tượng của một chuyển thức. Chuyển hạn như căn cứ “Căn cứ trên thứ kinh nghiệm nào để nói lên một sự vật nào đó thật?”Chuyển thức là từ bản thể liễn biệt của thức “Khi chuyển biến thì hiện ra hai phần, một phần có khả năng phân biệt nhận biết, gọi là kiến phần, phần kia không có khả năng phân biệt, chỉ làm đối tượng cho kiến phần gọi là tướng phần”(Luận Thành Duy Thức, Thích Thiện Siêu dịch và chú).Nói cách khác thì vật phải phát động tính đồng tri giác cho đến khi nhận biết rõ nó.Cái Thật phải có khả năng tính tác dụng theo luật nhân duyên.

2.Thiền quán về Bát Nhã .
Bát nhã được dịch là Trí Tuệ, có khả năng đưa người qua bờ bên kia. Bát Nhã được chia ra làm ba loại là Văn Tự Bát Nhã, quán chiếu Bát Nhã, Tánh  Tướng Bát Nhã.
Văn tự bát nhã: là dùng khả năng nghe, đọc, văn tự để phát sinh trí tuệ thấy được thật tánh của các pháp.
Quán chiêú bát nhã là dung trí tuệ để quán chiếu, quán sát, từ đó nhận ra được mọi sự vật là Không, do nhân duyên hòa hợp mà có mặt.Sắc, thọ, tưởng,hành, thức đều là không.Trong Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa có viết “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.”
Tự tướng bát nhã:Là không dung tâm để suy nghĩ mà nhận ngay ra thực tướng của các pháp vốn là không thực có.Chỉ do nhân duyên hòa hợp nên có mặt, hết duyên thì hoại diệt, không có gì bền chắc.
Ngoài ra thì trí Bát nhã được chia ra làm phân biệt trí và vô phân biệt trí hay là căn bản trí và hậu đắc trí.Trí phân biệt là trí của hang phàm phu, còn vô phân biệt trí là trí của bậc thánh.Căn bản trí là trí tự mỗi con người đều có , hậu đắc trí là trí tuệ được chứng đắc khi tinh tấn tu tập.
Thât ra thì tư tưởng của hệ Bát nhã đã có từ thời Đức Phật. Từ giáo lý Vô ngã mà trải qua một thời gian dài phát triển mà tư tưởng coi thế giới hiện tượng này không thực sự tồn tại.Thời kỳ Phật giáo bộ phái thì tư tưởng này đã xuất hiện.Các luận sưtrường phái A-tỳ-đạt-ma có tuyên bố các pháp vốn không thật sự tồn tại.Tuy nhiên họ lai quá nhấn mạnh vai trò của pháp để chứng minh thuyết vô ngã của cá nhân , điều đó vô tình khiến các pháp có một tự ngã.Các bộ kinh thuộc hệ Bát nhã đi xa hơn , cả quyết rằng các pháp không có tự ngã.Như thế thì hệ tư tưởng này đã chuẩn bị bướt quan trọng để phá trừ kiến chấp vào sự tồn tại của thế giới hiện tượng. Theo Kinh Bát nhã thì nếu thực tại không tồn tại thì chư Phật và Bồ tát cũng không thực sự tồn tại.Khi ta nhận thức được các pháp vốn do nhiều nhân duyên hòa hợp tạo thành thì ta sẽ nhìn thấy được thực tại của pháp giới. Đức Phật khi chứng ngộ quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác là do ngộ được giáo lý Duyên khởi.Các vị phật quả khứ  cũng nhờ giáo lý duyên khởi mà giác ngộ, Theo Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II), Thế Tôn Tỳ-Bà-Thi (Vipassi), sáu Thế Tôn tiếp theo Thế Tôn tiếp theo Thế Tôn Tỳ-Bà-Thi trong qua quá khứ, Thế Tôn Thích –Ca-Mâu-Ni và chư Thế Tôn trong vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề Từ giáo lý Duyên Khởi”.
Duyên Sanh là do cái này duyên cái kia mà sinh ra. Do duyên sanh nên tánh của các pháp là Không.Thế Tôn định nghĩa Duyên Khởi như sau: “Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh;do thức, có danh sắc sinh;do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh;do thọ, có ái sinh;do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do có sinh sinh, có lão tử,sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ Khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên Khởi (hay Duyên sinh)”.(Tương Ưng Bộ Kinh II,tr.1-2)
Khi dùng trí tuệ quán chiếu thì nhìn thấy các Pháp vốn là không có thực, không có tự tánh, do nhân duyên mà thành. Do đó mà các pháp không có tự ngã, không có bản chất trường tồn, tức là vô thường.
Trong Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa tâm kinh : “Quán tự tại Bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”.
Con người chúng ta do ngũ uẩn mà hợp lai tạo thành.Ngũ uẩn là Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Sắc uẩn: Là xác thân của con người hoặc là cảnh vật. Nó gồm có tứ đại đất, nước, lữa, gió tạo thành. Khi bốn đại hợp lại thì xác thân hình thành,Khi bốn đại tan rã thì thân không còn nữa. Khi hiểu lý nhân duyên thì người hành giả nhìn lại bản thân mình thấy rõ nó là hợp thể do các duyên mà hình thành.Khi nhìn cho rõ thì ta thấy thật ra thân này ban đầu do  tinh cha huyết mẹ hợp thành, thần thức gá vào thành tấm thân này. Được tứ đại nuôi dưỡng nên phát triển, theo thời gian chịu sự chi phối của luật vô thường nên già, bệnh,chết.Như thế sắc thân này vốn không có tự thể, không thường còn, luôn chuyển biến không ngừng.Cho nên nói nó là không. Khi dùng ánh sáng trí tuệ soi chiếu thì sẽ nhận rõ được bản chất thật tướng của thân.
Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng đều như thế.Tất cả các phần này đều do nhân duyên hợp lại mà có mặt.Khi hết duyên thì chúng trở về trạng thái không ban đầu.Bởi vật Bồ tát Quán Tự Tại khi quán chiếu với trí tuệ bát nhã đã thoát khỏi sự trói buộc của năm thủ uẩn mà giải thoát.
Trong kinh Bát thiên tụng bát-nhã-ba-la-mật-đa(sa. aṣṭasāhasrikā prajñāpāramitā) có đề cập đến bản chất của van pháp như sau:
“Sau đó qua thần lực của Phật,Tôn giả Tu-bồ-đề nói với Thế Tôn như sau: “thế Tôn nói ‘Ông hãy tùy hỷ thuyết về Bát –nhã-ba-la-mật-đa cho Bồ Tát Ma-ha-tát, hãy nói những vị này thể nhập Bát-nhã-ba-la-mật-đa như thế nào’.Bạch Thế Tôn, Bồ Tát được gọi là ‘Bồ tát’-vậy Bồ tát này  là tên gọi của Pháp nào? Bạch Thế Tôn,Con chẳng thấy pháp nào có tên ‘Bồ Tát’,và  cũng chẳng thấy pháp nào có tên ‘Bát-nhã-ba-la-mật-đa’cả.Thế Tôn! Vì không tìm ra, không nhận thức và cũng không thấy được một Bát-nhã-ba-la-mật-đa hoặc pháp nào tên’Bát –nhã-ba-la-mật-đa’-Thế thì Con nên giảng giải cho Bồ Tát nào thể nhập Bát-nhã-ba-la-mật-đa nào đây?”
Ta có thể nói về các pháp, các hiện tượng, nhưng nói về các pháp, tên gọi của các pháp không có nghĩa là các pháp sinh thành và tồn tại.
3.Bát nhã và Bất nhị.
Giáo lý Bát nhã là kết quả tiến triển của học thuyết Vô ngã. Vì thế khi nhìn nhận duyên sinh là do các chi phần như Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu,hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử.
Với sự có mặt của tham ái hay chấp thủ, các chi phần nhân duyên của Duyên khởi được nhìn thấy là hữu vi (vô thường, đoạn diệt); với những ai ngay trên đời này mà ái diệt, thủ diệt thì các pháp là phi khổ đau, là trung đạo, là vô vi, như chính Thế Tôn xác định quan điểm của Thế Tôn: "Khi Tôi thanh tịnh, Tôi thấy thế giới thanh tịnh". Bài kệ mở đầu Trung Luận của Tổ Long Thọ cũng nói lên ý nghĩa ấy:
Bất sanh diệc bất diệt
Bất thường diệc bất đoạn
Bất nhất diêc bất nhị
Bất khứ diệc bất lai
Năng thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt chư hý luận
(Chương I,Trung Luận)[1]
Duyên khởi đã được khẳng định chính là thực tánh của các Pháp.Đây chính là thật pháp, bất hư vọng tánh vọng tánh.Như Kinh Hoa Nghiêm đã đề cập trong giáo lý “Pháp giới trùng trùng duyên khởi”.Không có sự khác biệt hay là sự cao thấp đối với Lý Duyên Khởi mà Phật chứng ngộ với Pháp Duyên khởi của Hoa Nghiêm.
Với trí bát nhã thì tính Bất nhị của muôn pháp được hiển bày rõ ràng.Pháp nhị nguyên chỉ là pháp tương đối,đối đãi lần nhau.Dưới con mắt của phàm phu thì thấy có già trẻ, lớn bé, trước sau, trong ngoài, đông tây.Nhưng đối với hành giả với cái nhìn của trí bát Nhã thì không còn có sự phân biệt như thế.Đối với lập trường của người trẻ thì thấy người già là tương lai của mình.Đối với cái nhìn của người già thì thấy người trẻ là quá khứ của mình.Hai phần trẻ già đều là cái nhìn của chúng ta.Cảnh giới bất nhị là cảnh giới của chư Phật, không thể dung trí thức để suy lường hay định nghĩa được.Cũng như uống nước thì người uống nóng hay lạnh chỉ tự mình biết.Không thể nào dung ngôn từ để điển tả được cảm giác ấy.Tuy nhiên vì muốn hướng dẫn cho chúng sanh tư tưởng này mà các ngài đã dung ngôn ngữ để diển tả, mặc dù ngôn ngữ có giới hạn của nó là không thể nào diễn đạt hết những điều cần nói. Khi chưa thấy được tính chất giả hợp của các pháp, chúng ta còn mê mờ trong sanh tử luân hồi thì cần phải lựa chọn một pháp tu thích hợp để tu tậpkhi đã được giải thoát thì đều đồng nhau.Trí Bát nhã hiện tiền thì tâm như như bất đọng trước bát phong, không có gì sai khác.Các pháp môn mà đức Phật dạy cho chúng sanh không ngoài ý muốn đưa con người vượt qua bờ mê mà đi đến lộ trình của giác ngộ giải thoát.Trong Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh có đề cập đến pháp tu Bất Nhị : “Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: Như ý tôi, đối với tất cả pháp không nói, không rằng, không chỉ, không biết, xa lìa các vấn đáp. Đó là nhập Bất nhị pháp môn.
Khi đó, ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật: Chúng tôi nói rồi, đến lượt ngài cho biết thế nào là Bồ tát nhập Bất nhị pháp môn.
Duy Ma im lặng không nói. Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: Hay thay, cho đến không có văn tự, ngữ ngôn. Đó mới thực là nhập Bất nhị pháp mon.
Khi nói phẩm này, trong chúng có năm ngàn Bồ tát nhập Bất nhị pháp môn, chứng Vô sanh pháp nhẫn”.  [2]
Do tâm của chúng sanh vọng chấp, coi có ngã có pháp mà trí bát nhã không được hiển bày.Bởi vật chư Phật vì lòng từ bi mà khai mở phương tiện, đặt ra các pháp môn khác nhau để tùy vào căn cơ của mỗi người mà chứng đắc các quả vị khác nhau.Khi thực sự hiển rõ được pháp tánh và tự tính của muôn pháp thì cùng hòa vào biển trí tuệ Bát nhã, không còn bị ngăn ngại bởi nghiệp chứơng và phiền não chướng. Người đó sẽ chứng đắc được Tam minh và Lục thông, tùy duyên mà làm lợi ích cho chúng sanh.Đời này là đời sau cùng, từ nay không còn thọ thân nữa.Như củi hết thì lữa tắt, không còn vương lại khói.Các vị Bồ tát này tùy theo hoàn cảnh mà sử dụng trí Bát nhã cho việc Phật sự.Như các vị Thiền sư thỏng tay vào chợ, không còn gì làm cho ô nhiễm, như vàng đã được luyện cho tinh, không còn bị khoáng chất làm ảnh hưởng nữa.Như trong Tâm Kinh Bát nhã có đề cập “Bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm”.Tâm chúng sanh vốn là thanh tịnh, nhưng bởi vọng chấp mà sinh ra những ràng buộc rồi tạo ra tội ác làm ô nhiễm tâm của chính mình.Trong Kinh Pháp Hoa , Đức Phật tuyên bố Ngài ra đời để chỉ cho chúng sanh cái tri kiến Phật mà mình có. Bởi do ham chơi chốn Ta-bà mà bỏ quên đi gia tài giải thoát mà mình có sẵn vì thế mà làm nhọc lòng chư Phật ra tay tiếp độ. Chỉ cho ta thấy được tri kiến Phật của mình, từ đó không còn phải chịu luân hồi sanh tử, trầm luân muôn kiếp.




















III.Kết Luận
   Giáo pháp của Phật như chiếc bè đưa người sang sông, khi đã qua xong thì bỏ lại bè.Cũng như hành giả khi chứng đắc được trí tuệ Bát nhã thì muôn phápđều buông như hoa đốm giữa hư không.Bởi các pháp là do duyên sinh tạo nên. Chúng không có thực tánh, chỉ do nhiều duyên tạo thành, nên nó là vô tướng , vô thường, vô ngã. Khi hành giả thấu rõ được chân lý này thì nhất thiết trí sẽ được chứng đắc. Khi đã hiểu rõ được bản chất của các pháp thì không còn bị sự trói buộc của cõi đời này nữa, cánh cửa Niết Bàn sẽ mở ra.Thế giới ngày nay chứa nhiều đau khổ, bởi con người bị Vô minh che lấp.Bởi do thấy ngã và ngã sở mà lầm chấp các pháp đều có thật. Do cái thấy sai lầm như thế mà con người sống như một tổ kén, tự tạo ra những trói buộc cho con người của mình và làm cho mọi người xung quanh đau khổ.Giáo lý Duyên khởi chính là con đường đưa con người đạt đến trí tuệ Bát nhã để cắt đứt mọi ràng buộc của con người.Mọi người đều có khả năng giác ngộ nhưng vì không chịu nhận lấy viên ngọc quý mà mình có nên mãi chịu cảnh nghèo túng.Các pháp môn đều là những vị thuốc chữa lành căn bệnh vô minh của chúng sanh, vì thế muốn có dduocj tuệ giác Bát nhã thì cần phải tinh tấn tu tập.











TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.HT. Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, Quyển ba khóa I X, Nxb.Tôn giáo-2005.
2.Thích Chơn Thiện , Phật Học Khái Luận , NXB .Tôn Giáo , 2005.
3)Narada , Việt dịch Phạm Kim Khánh , Đức Phật và Phật pháp , NXB Tôn Giáo, 2006.
4. Tâm Minh (biên dịch) Kinh Thủ Lăng Nghiêm , NXB .Tôn Giáo ,2007.
5. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam,  NXB TP Hồ Chí Minh , 1995
6. Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam,  NXB TP Hồ Chí Minh , 1995.
7.Tâm Minh biên tập,Kinh Thủ Lăng Nghiêm,NXB.Tôn Giáo,2007.
8.Thích Trí Tịnh,Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,NXB.Tôn Giáo, 2008.


[1] Thích Viên Lý  dịch, Trung Luận, NXB.Tôn Giáo ,1995.
[2] HT Thích Trí Quảng, Lược Giải Kinh Duy Ma,NXB.Tôn Giáo,2009.

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa



  I.Dẫn nhập
1.Lý do chọn đề tài
   Phật Giáo là một tôn giáo có quá trình lịch lịch sử phát triển lâu dài. Kể từ khi Đức Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng và chuyển pháp luân tại vườn Lộc uyển , thuyết pháp hóa độ cho năm anh em Kiều Trần Như .Từ lúc ấy tăng đoàn của Phật giáo đã xuất hiện .Đức Phật cùng với năm vị tu sĩ này chính là nền móng đầu tiên của Tăng đoàn trong Phật giáo .Tổ chức của tăng đoàn sơ khai này theo thời gian được đức Phật phát triển, từ đó lớn lên và lang rộng ra khắp lục địa Ấn Độ , và tồn tại tới ngày nay và mang những màu sắc tăng bào khắp nơi trên trái đất.Theo lịch sử thì vào năm 528 đến năm 484 thì đức Phật đã đi khắp nơi từ thành Magadha đến thành Kosala qua các tiểu quốc, dọc sông Ganges và sông Gandak .Đây cũng là giai đoạn Ngài phát triển Tăng đoàn để đặt nền móng sau này thay ngài truyền bá chân lý giải thoát cho mọi chúng sanh.Với các tổ chức khéo léo tăng đoàn ngày càng phát triển lớn mạnh để chuyển bánh xe chánh pháp khắp mọi nơi.Giáo đoàn Phật giáo có mặt tại các quốc gia lúc bấy giờ đã làm thay đổi bộ mặt của hệ thống tư tưởng và nền văn hóa của mỗi quốc gia ấy. Đa số các nước thời bấy giờ đều theo Đạo Ba-la-môn, nhưng với trí tuệ và đạo đức của Đức Phật thì thượng tầng tri thức trong xã hội lúc bấy giờ đã phát nguyện tu tập theo chân lý Phật đã tuyên thuyết dưới sự hướng dẫn của tăng đoàn thời bấy giờ. Tăng chúng sống theo lục hòa cộng trụ chính là khuôn mẫu cho xã hội mong ước có được cuộc sống hạnh phúc. Sự kiện Đức Phật cho nữ giới xuất gia cũng chính là cuộc cách mạng xã hội thời bấy giờ, Ngài đã xóa bỏ được tư tưởng phân biệt giai cấp và giới tính tồn tại hàng ngàn năm của Ấn Độ thời đó. Theo thời gian thì vạn vật đều sẽ thay đổi và con người tu tập giải thoát dù biết rằng phải tự mình cất bướt lên mà đị nhưng cũng không thể tách rời cuộc sống của đoàn thể. Mối quan hệ giữa vị tỳ kheo đối với tăng đoàn chính là mạch sống của Phật pháp. Tăng đoàn thanh tịnh và hòa hợp chính là chổ dựa vững chắc cho người con Phật trên lộ trình tu tập giải thoát. Vì thế người viết đã chọn đề tài ”Đặc điểm tổ chức Tăng đoàn Phật giáo “ với mong ước Phật pháp được hưng thạnh và chúng sanh được thấm nhuần cam lồ vị của chánh pháp .
 2.Giới hạn đề tài
    Đề tài nói về đặc điểm tổ chức của tăng đoàn Phật giáo nên nó có giới hạn rất rõ ràng . Người viết sẽ đề cập những điểm đặc thù của giáo đoàn của Phật giáo và đặt trọng tâm trong quá trình lịch sử hình thành nên tăng đoàn, cấu trúc tổ chức của tăng đoàn .Trong 49 năm thuyết pháp Đức Phật đã dần dần hoàn thiện tăng đoàn qua 7 yếu tố giác ngộ. Từ đó tăng đoàn hưng thịnh và phát triển khắp nơi.
  3.Phương pháp nguyên cứu
   Đối với chủ đề này thì không có gì mới mẻ đối với các nhà nguyên cứu Phật học .Đề tài này được nhiều học giả đề cập trong các tác phẩm Phật học của mình. Nhưng đối với những người chưa biết đến nếp sống thanh tịnh hòa hợp của tăng đoàn thì đây cũng không phải là chủ đề cũ.Trong khi thực hiện tiểu luận này người viết đã dung phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến cách tổ chức và lối sống thanh tịnh của tăng già. Bài tiểu luận này không đề cập đến phương pháp tổ chức mang tính hành chánh của giáo đoàn và không bàn đến đường lối phát triển của Tăng đoàn Phật giáo .






















 II.Nội dung

   1.BỐI CẢNH LỊCH SỬ ẤN ĐỘ THỜI ĐỨC PHẬT

     1.1. TÔN GIÁO

     Ấn Độ là  nước có bề dày phát triển đối với nhân loại , được xếp chung với các nền văn minh lớn của nhân loại như nền văn minh sông Nil và sông Dương Tử. Nơi đây là nền văn minh ở thượng lưu hai con sông lớn là Indus (sông Ấn) và sông Gange (sông Hằng). Tại đây đã hình thành một nền văn minh nông nghiệp phát triển. Chính vì văn minh nông nghiệp nên Ấn Độ là một nước một nền văn hóa nghiêng nông nghiệp nên việc thề các thần linh và các quan điểm thần bí về vũ trụ rất phát triển. Dân tộc Aryan Ấn Độ cư trú ở vùng Punjab nagys một phồn thịnh , nhất là về mặt tư tưởng thì rất phát đạt. Vì thế dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển đầu tiên, tức là kinh điển Rig Veda. Họ chia xã hội thành bốn đẳng cấp: Bà-la-môn (Brahmana – tăng lữ), Sát-đế-lợi (Shastriya – vương tộc, chiến sĩ), Phệ-xá (Vaisya – thứ dân, công nông thương) và Thủ-đà-la (Sadra – nô lệ, lao động cấp thấp), trong đó đẳng cấp Bà-la-môn là giai cấp thống trị. Giai cấp bà la môn trong xã hội chiếm nhiều sự ưu đãi trong xã hội đã tạo nhiều xu hướng triết lý và các cách thực hành khác nhau đôi khi chống báng lẫn nhau. Một xã hội rối rem với nhiều đẳng cấp và nhiều giáo phái đã làm cho những người dân thuộc giai cấp Phệ-xá và Thủ-đà-la vô cùng khốn đốn. Nhiều tư tưởng phản Vệ-đà và đặc biệt là sự hình thành của Lục sư ngoại đạo:
1. Purana Kasapa (Phú-lan-na Ca-diếp), theo chủ nghĩa Hoài nghi.
2. Makkhali Gosala (Mạt-già-lê Câu-xá-la), theo chủ nghĩa Tất nhiên luận, tin tưởng vào  sự giải thoát tất yếu, tối hậu của con người.
3. Ajita Kesakambali (A-kỳ-đa Kê-sa-khâm-bà-la), theo chủ nghĩa Duy vật luận thuần túy và chủ nghĩa Khoái lạc cực đoan.
4. Pukudha Kaccayana (Phù-đa-na Ca-chiên-diên), chủ trương Tâm thường hằng, bất diệt.
5. Sanjaya Bellathiputta (Tân-nặc-da Tỳ-la-nê-tư), chủ trương theo Cảm hứng, trực giác tùy thời.
6. Nigantha Nataputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử), tức Ma-ha-vi-đề, giáo chủ Kỳ-na giáo, chủ trương khổ hạnh, có luân hồi, nghiệp quả. Học thuyết rất có uy tín, có một số điểm tương đồng với đạo Phật.

1.2. CHÍNH TRỊ

  Ấn Độ là một lục địa rộng lớn và có nền văn minh phát triển.Đây được coi là một trong những nền văn minh có mặt sớm nhất trong lịch sử nhân loại.  Không những là nơi có nhiều tư tưởng tôn giáo khác nhau mà Ấn Độ trong thời đại Đức Thích Ca cũng có nền chính trị chính thể quân chủ chuyên chế. Có hai nước còn tồn tại chế đô cộng hòa của thời cổ đại là Kosala (Kiều-tát-la) và Magadha (Ma-kiệt-đà). Nước Kosala ở phía Bắc Ấn Độ, đô thị là Sravatsti (Xá-vệ) và nước Magadha ở phía Nam sông Gange, đô thị là Rajagrha (Vương-xá). Hai nước này là trung tâm điểm của nền văn minh Ấn Độ, có nền kinh tế phát triển và đông dân cư. Phía Đông Bắc có nhiều dòng họ đóng đô chung quanh, gây thành trạng thái quần hùng các cứ lúc bấy giờ. Dòng họ của Đức Phật là Sakya (Thích Ca tộc), đóng đô ở Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), vùng này hiện nay bị ranh giới Ấn Độ-Nepal chia cắt, thời ấy tiếp giáp quốc độ Kosala về đông bắc và là một nước chư hầu của đế quốc này[1]. Cộng hòa Malla rất rộng có đến hai vua thống trị ở Pàvà và Kusinàrà. Kusinàra được miêu tả là nơi chốn không quan trọng nhưng chính nơi đây bậc Đạo sư đã viên tịch trong Niết-bàn tối hậu. Sđd, tr. 35. Cộng hòa Licchavrì với thủ đô Vesàli (Tỳ-xá-ly) và cộng hòa Videha (Vi-đề-ha) với thủ đô Mitthilà (Mi-thi-la) đã gia nhập liên bang Vajji (Bạt-kỳ), có một thời liên kết vài bộ tộc khác nữa. Ngoài các nước quân chủ và cộng hòa còn có các bộ tộc quan trong là Koliyas (Câu-ly), ở phía đông nam cộng hòa Sakya, thủ đô là Ràmagàma (hay Koliyanagara). Xa hơn nữa có bộ tộc Moriyas, thủ đô là Pipphalivana, tiếp giáp bộ tộc Koliya, mãi đến tận phía đông. Cuối cùng là dòng họ Kàlamas, thủ đô Kesaputta, nằm trong góc hướng về phía tây giữa sông Ghafgra và sông Hằng. Sđd, tr. 36. Dù chia ra nhiều vương quốc khác nhau  , nhưng dân chúng của mỗi quốc gia vẫn có thể đi qua biên giới của nước khác để làm ăn sinh sống .Thời kỳ này các nước sống tương đối hòa bình .

1.3. XÃ HỘI

 Thời cổ đại chủa Ấn Độ thì hình thức cúng bái và tế lễ rất được trú trọng , kính thần .Lúc đầu thì họ đặt ra người gia trưởng hay tộc trưởng là người dâng lễ cho thần linh được gọi là chức lễ ty .theo dong thời gian thì chức vụ lễ ty được chuyên môn hóa trở thành một giai cấp riêng gọi là Bà –la môn .Giai cấp này chuyên về tế tế nên chiếm địa vị tối cao trong xã hội. Giai cấp thứ hai là giai cấp coi về trị an của xã hội , đây là những chiến sĩ bảo vệ sự an bình cho bộ tộc và phân xử những bất đồng trong cuộc sống, về sau hình thành nên một bộ máy chính trị được gọi là Sát –đế -lợi.Giai cấp buôn bán và sản xuất những của cải cho xã hội là Phệ -Xá.Còn những người chuyên làm thuê hay thuê đất đai của các giai cấp khác để canh tác thì được gọi là Thủ-đà-la. Ngoài bốn giai cấp này còn có một giai cấp đặc biệt, không được xếp vào một giai cấp nào cả chính là chủ nhân của vùng đất phía nhưng khi bị dân Aryan từ miền đánh chiếm thì suốt cuộc đời chỉ làm nô lệ.  . Bốn giai cấp theo chế đô tế tập, cha truyền con nối nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xã hội bất công.Người nghèo thì suốt cuộc đời chỉ chấp nhận phận nghèo, không có sự phấn đấu nào có thể vượt qua sự phân chia giai cấp bất di bất dịch này. Trong giai đoạn đó ngoài các vị thần đầy quyền năng được chấp nhận theo truyền thống tín ngưỡng thì chưa có một người thực sự, con người của lịch sử, cao cả mà gần gũi với mọi người. Một con người đầy tình thương yêu đồng loại đã xuất hiện. Vị ấy không đặt thêm những học thuyết, những tư tưởng mới mà chỉ dung nạp, hòa hợp lại với sự tu tập tự thân chứng ngộ những chân lý và đưa ra con đường cứu khổ cho con người. Sau khi thành đạo vô thượng Chánh đẳng giác, Ngài đã vì hạnh nguyện đô sanh mà thuyết pháp và đặc biệt là sự thành lập Tăng đoàn để duy trì mạng mạch chánh pháp. Đó chính là Đức Thích Ca, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.

2.Khởi nguyên của Tăng đoàn.

 2.1 Thành lập Tăng Đoàn .

  Theo các tài liệu để lại như Luật Tứ Phần , Ngũ phần và nhất là theo luật tạng Pali Mahavagga thì sau khi thành đạo và hưởng thọ sự an lạc của quả vị giải thoát dưới cội Bồ đề tại Bồ đề đạo tràng .Sau đó đức Phật đã chuyển Pháp luân tại Isipatana (chư tiên đọa xứ ) , thuộc  thuộc thị trấn Baranas để thuyết giảng Tứ Đế cho năm anh em Konỉdỉanõnõa(  Kiều Trần Như ).năm người này đã từng tu khổ hạnh chung với Phật. Khi nghe được giáo pháp thì 5 người này đã giác ngộ và theo Phật xuất gia trở thành những vị đệ tử đầu tiên và giáo đoàn của Phật đã được hình thành .
 Sau đó Đức Phật du hóa và thâu nhận các vị đệ tử khác như nhóm của trưởng giả Yasa và những người bạn và và năm mươi tư người bạn tại thành phố banaras .Số lượng các vị thánh A-la-hán đã lên 60 vị, rồi mỗi người đi về một hướng để thuyết pháp độ sanh theo lời dạy của Đức Phật .Đức Phật đến Uruvela (Ưu-lâu-tần-loa), Thế Tôn độ ba Tôn giả Kassapa (Ca-diếp) và ngót một ngàn đệ tử của ba vị này, khiến tất cả đều đắc quả A-la-hán .Sau đó đến Vương Xá hóa độ Xá –Lợi -Phất và Mục- Kiền- Liên và hai trăm năm mươi môn đệ của ngoại đạo sĩ Sanõjaya .Kể từ đây số đệ tử của Phật đã đạt tới 1250 vị A-la-hán , những vị này thường hay được đề cập trong Kinh điển . Hình thức xuất gia trong thời kỳ đầu này hết sức đơn giản .Đó chỉ là lời mời gọi của đức Phật đối với những ai muốn gia nhập tăng đoàn là “Đến đây, này Tỳ kheo” (Ehi bhikkhu- Thiện lai Tỳ kheo ).Tuy nhiên khi các vị đệ tử đi giáo hóa ở những nơi xa xôi thì khi có người phát tâm xuất gia thì Phật dạy thể thức cho phép các tỳ kheo làm lễ thế phát và thọ giới Tỳ kheo .Theo tập Mahàvagga (Đại phẩm), trước tiên, người muốn xuất gia phải cạo bỏ râu tóc, khoác y vàng, tiếp đến vị ấy phải đảnh lễ chúng tỳ kheo, chấp tay ngang ngực và lập lại nghi thức quy y Tam bảo :
Con thành tâm quy y Phật bảo (Buddham saranam gacchàmi).
Con thành tâm quy y Pháp bảo (Dhammam saranam gacchàmi).
Con thành tâm quy y Tăng bảo (Sangham saranam gacchàmi).
 Cũng có những vị trẻ tuổi muốn xuất gia thì được cạo bỏ râu tóc và cho thọ giới Sa di , khi đủ 20 tuổi thì mới được phép thọ giới Tỳ kheo . Đó là quá trình hình thành hội chúng Tỳ kheo .

2.2 Thành lập Ni Đoàn .

     Năm 524 trước Tây lịch . Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, (2000), tr. 271., tức năm thứ sáu sau khi Phật thành đạo, Vua Suddhodana (Tịnh Phạn )bệnh nặng Đức Phật đã trở về thành Kapilavatthu để thăm và thuyết pháp cho phụ hoàng chứng được quả vị A –la –hán trước khi mất. Phật bàn với vương tộc đưa Mahanama anh ruột của Tôn giả Anurudha lên làm vua. Thu xếp việc triều chính xong Phật cùng chúng đệ tử đến rừng Nirodha, ngoại thành Kapilavatthu. Bà Pajapati (Ma-ha-Ba-xà-ba-đề) đến cầu xin Phật cho phái nữ được xuất gia tu hành, sống đời sống không gia đình. Sau ba lần từ chối lời thỉnh cầu của di mẫu, Phật cùng Tăng chúng trở về Vesaly. Bà đã dẫn 500 thể nữ thuộc dòng họ Sakya, tự cạo bỏ tóc, khoát y vàng đến Vesaly xin được xuất gia. Cảm động trước cảnh đso Tôn giả Ananda năn nỉ giúp, Đức Phật mới chấp nhận lời thỉnh cầu của bà và nêu ra “Bát kỉnh pháp”, nội dung nhằm đề cao tính chất cao trọng của Tăng đoàn trong việc hướng dẫn giáo dục Ni đoàn mà suốt đời một Tỳ-kheo ni phải tôn trọng.Di mẫu và các vị này hoan hỷ tuân hành lời Phật dạy .Như vậy, bà Mahapajapati là đệ tử ni đầu tiên của Đức Phật.Tăng đoàn là đoàn thể tu tập hòa hợp như nước với sữa , không phân biệt giàu nghèo hay kỳ thị giới tính nam hay nữ, hành động đức Phật cho phép phái nữ xuất gia cũng là một cuộc cách mạng gây tiếng vang đối với toàn thể đất nước Ấn Độ thời bấy giờ và cũng gặp không ít sự chống đối của các học phái và chính quyền. Đây cũng là tập thể tiến bộ nhất của nhân loại đã xuất hiện .
 Bát kỉnh pháp
1. Tỳ-kheo ni phải y chỉ chúng Tỳ-kheo mà cầu thọ giới Cụ túc.
2. Tỳ-kheo ni cứ mỗi nữa tháng phải đến trú sở của chúng Tỳ-kheo mà làm lễ thỉnh thầy giáo thọ.
3. Tỳ-kheo ni mỗi năm một lần kiết họ an cư. Nếu trong vùng khoogn có chúng Tỳ-kheo nào thì tuyệt đối không được phép tự lập kiết hạ riêng.
4. Tỳ-kheo ni không được cử tội hay nói lỗi lầm của Tỳ-kheo. Ngược lại, Tỳ-kheo có quyền nói lỗi lầm của Tỳ-kheo ni.
5. Tỳ-kheo ni nếu lỡ phạm tội Tăng tàng phải tự mình xin sám hối trước hai bộ chúng Tỳ-kheo và tỳ-kheo ni trong kỳ Bố tát gần nhất.
6. Tỳ-kheo ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu một trăm năm, nhưng đói với Tỳ-kheo mới thọ giới vẫn phải cung kính đảnh lễ chắp tay vái chào.
7. Tỳ-kheo ni sau mùa an cư phải đến trước tỳ-kheo xin chỉ những việc bất xứng ý của mình, bất luận việc ấy đã được hoặc mắt thấy, tai nghe hay ngờ vực.
8. Tỳ-kheop ni có điều gì cần hỏi Tỳ-kheo mà nếu vì một cớ nào đó tỳ-kheo không đáp, không được hỏi gặn thêm (Luật Tứ Phần: Ni không được phỉ báng Tăng). [2]
 Nhiều vị Ni đã tu tập và chứng thánh quả A-la-hán góp phần vào công việc hằng dương chánh pháp của giáo hội.Có rất nhiều vị Ni có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội thời bấy giờ .

 2.3 Các Tinh xá được hình thành.


2.3.1 Veluvana (Trúc Lâm tinh xá)
Trong thời gian đầu thì Đức Phật và các vị đệt tử là những du tăng , thường trú ẩn dưới những cội cây hay là trong những túp lều đơn gian hoặc là những hang động để tu tập thiền định.Cuộc sống đơn giản như thế nhưng chiếm rất nhiều cảm tình của dân chúng. Đến năm thứ ba sau ngày Đức Phật thành đạo, số đệ tử xuất gia, tại gia của ngài đã đông đảo và chiếm được sự ưu ái của quần chúng. Vua Bimbisara nước Magadha đã xin quy y Phật và hiến cúng rừng Veluvana (Trúc Lâm) trong đó nhà vua cho xây cất đầy đủ tiện nghi để dùng làm tinh xá, gồm giảng đường, phòng ốc, vật dụng đủ thứ cho Phật cùng giáo đoàn tới cả một ngàn người. Đây là tinh xá đầu tiên của giáo hội , chu tăng cũng bắt đầu sống định cư. Đến tháng Vesakhà (khoảng tháng 4 – 5 âm lịch) là vào mùa mưa, Đức Phật và chư tăng đến an cư mùa hạ thứ hai ở nơi đây.
2.3.2. Jìvàkàràma (Kỳ Bạt tinh xá)
  Đức Phật đi thuyết giảng giáo pháp khắp nơi và được sự ủng hộ của mọi từng lớp , uy tín và đức độ của tăng đoàn ngày càng lan rộng . Nhiều gia chủ đã tìm đến để học hỏi để biết được lợi lac do giáo pháp đem lại và áp dụng giáo pháp, nhiều người đã hiến cúng phần đất của mình để xây dựng tinh xá cho Phật cùng chư Tăng. Nhiều tinh xá đã mọc lên, trong sồ đó phải kể đến là Jivakarama (tinh xá Kỳ Bạt), tại ngoại ô thành Rajagadha (Vương-xá), người dâng cúng tinh xá này là Jivaka, là một vị thần y , nhà phẩu thuật tài ba  thời Đức Phật.
2.3.3. Jetavanàràma (Kỳ Viên tịnh xá)
 Tinh xá Kỳ Viên (Jetavanarama), ở Savathi, tinh xá này là trưởng giả Anthapindika (Cấp Cô Độc) hiến cúng cho giáo hội.Vườn cây này là do Phú hộ Cấp Cô Độc đã bỏ ra rất nhiều vàng để mua của Thái Tử Kỳ Đà.Sau khi lấy vàng lát đầy khu vườn thì Thái tử đã cảm động trước tấm lòng vì Phật pháp của trưởng giả nên đã phát tâm cúng số cây trong rừng để lập tinh xá.  Vì vậy, mọi người thường gọi là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên. Sau đó trưởng giả cho xây cất một số tinh xá đồ sộ với đủ loại phòng ốc, giảng đường, bếp, nhà kho, nhà vệ sinh, chỗ đi dạo, giếng lộ thiên, giếng có nắp, bãi tắm, phòng tắm, hồ… Có thể nói tinh xá Ký Viên là tinh xá lớn nhất thời bây giờ, cũng chính nơi đây Đức Thế Tôn đã an cư 25 mùa hạ và nhiều bài pháp quan trọng được ngài thuyết ở nơi này.
2.3.4. Ghositàràma (Cù Sư La tinh xá)
Tinh sá này tại Kosambi, do trưởng giả Ghosita cùng hai người bạn đồng sự là Kukkuta và Pavariya xây cất. Đây là tịnh xá rất lớn và bền vững. Tinh xá này là trú xứ liên tục của chư Tỳ-kheo tới hơn một ngàn năm sau mới bị phá hủy do quân Hung tràn vào xâm chiếm Kosambi .Nơi đây Đức Phật đã thuyết nhiều phần kinh quan trọng.
Ngoài những tinh xá đã nêu trên còn có những tinh xá lớn nhỏ khác rãi rác khắp nơi trên vùng Ấn Độ như Ambapali – Vana , Markathrada ở Vesali; Udambari-Karama ở trên sông Sappini, Kukkutarama, Pavaxikanivana đều ở Kosambi; Nigrodharama (Ni-câu-đà) ở Kapilavatthu; Isipatana (Lộc Uyển) ở Baranasi …  Các tinh xá giờ đây chỉ còn tên gọi  , và được các nhà khảo cổ khai quật tìm thấy được nền móng và những viên gạch cùng một số vật dụng .Khi xưa chính tại những nơi này chư vị đệ tử của phật đã tu tập và các vị thánh lần lượt ra đời , cũng chính những nơi này mà sinh hoạt phật giáo phát triển một thời đem lại lợi lạc cho chư thiên và loài người.
3.Giới bổn
  Giáo đoàn ngày càng đông nhưng cuộc sống vẫn thanh tịnh, mọi người đều giữ giới luật theo tinh thần  ‘Không làm các việc ác , nên làm các việc lành , giữ gìn thân miệng ý , là lời chư Phật dạy. Mãi đến năm thứ 13 thì có Tỳ kheo Tu-đề-na mất phạm hạnh, Đức Phật đã họp tăng đoàn và thiết lập ra giới luật.Trong tăng chúng cũng có nhóm Lục quần Tỳ kheo thườngng mắc lỗi lầm , tùy theo nặng nhẹ mà Đức Phật tuần tự chế ra giới luật , từ đó hình thành nên bộ luật của hàng xuất gia. Bộ Pàtimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) qui đinh Tỳ kheo thì giữ 225 giới, Tỳ kheo Ni thì giữ  311 giới theo nam tông, Tăng thì 250 giới , Ni thì 350 giới theo Bắc truyền. Ngoài ra còn có Sa di , sa di ni thì giữ gìn 10 giới.Như vậy theo tinh thần đức Phật dạy thì giới luật nhằm để ngăn ngừa những tội lỗi phát sanh làm ảnh hưởng đến cuộc sống thanh tịnh của Tăng đoàn, và ngăn chặn khả năng tu tập giải thoát của mỗi cá nhân.

 4. Sinh hoạt của tăng đoàn.

4.1 .Thời khóa tu tập hàng ngày.

  Hầu như mỗi ngày Đức Phật và các vị đệ tử đều đi khất thực để sống.Bướt chân của quí ngài có mặt ở mọi nẻo đường , không phân biệt giàu nghèo , sang hèn để nhận vật thực từ các gia chủ.Theo luật các vị không đi vào thôn xóm quá sớm hoặc quá muộn , tuần tự đến tầng nhà để khất thực, trừ trường hợp được cúng dường riêng thì phải tác bạch với chúng Tăng.Hầu như cả buổi sáng trước khi Khất thực các thầy đều đến đâu đó để thuyết pháp.Sau khi khất thực xong các ngài trở về tịnh xá để thọ thực 1 bữa duy nhất trong ngày .Thọ thực xong thì thu xếp mọi thứ , nghĩ ngơi chốc lát dưới cội cây hay 1 ngôi nhà trống .Buổi chiều thì nghe đức Phật thuyết pháp , sau đó các vị ngồi lại với nhau để trình bày , bàn bạc về giáo lý và kinh nghiệm tu tập .vào buổi tối các vị ngồi thiền và xen lẫn từng canh là ngủ , thiền hành .Tính ra một đêm quí ngài ngủ khoảng 4 , 5 giờ.Thời gian còn lại dành cho việc tu tập và học hỏi giáo lý.

4.2 Bố tát (Uposatha)

  Bố tát được hiểu là buổi lễ họp mặt vào ngày hắc nhật (mồng một) và bạch nhật ( mười lăm ), các ngày này chư tăng họp lại với nhau để đọc lại giáo lý như Tứ diệu đế , Duyên khởi , Vô ngã …Nhưng về sau giới luật được Phật chế ra nên chư tăng họp mặt để đọc lên xem xét coi ai phạm phải điều gì để sám hối lỗi lầm mình đã gây ra. Bố tát phật chế ra để un đúc tinh thần tu tập tịnh hạnh của chư tăng xây dựng tình đoàn kết trong tăng già , thể hiện tinh thần học giới trong tam vô lậu học giới –định –tuệ.

4.3 An Cư

 Ở Ấn Độ 3 tháng mùa mưa là thời gian côn trùng phát triển, nên việc đi lại rất khó khăn.Đức Phật đã chế định ra pháp An cư để các Tỳ kheo sống tịnh trú , cùng nhau tu tập , trao đổi giáo lý và phát triển thiền định. Lễ này bắt đầu từ ngày trăng tròn tháng Sravana (khoảng vào ngày 15 tháng 5 âm lịch). An cư phải đủ 3 tháng dù cho là an cư sớm hay muộn, thì vị Tỳ kheo mới được tính là một tuổi đạo. Dù là người tu lâu năm nhưng không tác pháp an cư thì vị ấy vẫn được coi là người nhỏ tuổi trong tăng đoàn. Trong mùa An cư nhờ nổ lực tu tập mà nhiều vị đã đắc các thánh quả khác nhau.

4.4. Tự tứ (Pavàràna)

  Lễ Tự tứ được tổ chức vào cuối mùa an cư kiết hạ của chư Tăng. Ngày đó một Tỳ-kheo thỉnh cầu các vị Tỳ-kheo khác nói lên những lỗi lầm của mình để mình sám hối những tội đã mắc phải. Như vậy đây là hình thức tập thể soi sang cho  cá nhân nhận khuyết điểm,và cá nhân tỏ ra sự hối tiếc về những lỗi lầm của mình. Đây là cách sinh hoạt đặc biệt trong cộng đồng Tăng-già thời Đức Phật và mãi đến ngày hôm nay.Hình thức này giúp cho hành giả ngày càng tiến bộ trên con đường tu tập.

4.5. Thọ y Ca-thi-na (Kathina)

 Việc thọ nhận y Ca-thi-na thường được thực hiện vào ngày tự tứ.Các Tỳ kheo sau ba tháng tinh tấn tu tập nên xứng đáng được thọ nhận một y mới, ngài ba y như luật định là uất- đa -la tăng(y thượng), an- đà -hội(y hạ),và tăng- gìa-lê(y ngoài cùng)[3]. Đức Phật dạy, sau mỗi mùa an cư, các Tỳ-kheo nên thọ y ca-thi-na để được năm điều lợi ích:
1. Ngoài ba y, các Tỳ-kheo được cất chứa vải, y quá mười ngày để chuẩn bị dùng vải hay y ấy để may y hay thọ y mới, tức là y ca-thi-na.
2. Không cần phải mang một lúc ba y như luật định.
3. Được phép thọ thực tại nhiều nhà thí chủ, miễn là không quá ngọ.
4. Được thọ thực riêng tứng nhóm từ bốn vị trở lên.
5. Được vào thôn xóm trước hay sau bữa ăn không cần báo trước cho một Tỳ-kheo khác.
Phật chế ra việc thọ y ca-thi-na là để các Tỳ-kheo được thọ nhận năm điều thuận lợi , nhằm nới rộng một số điều luật, chứng tỏ giới luật không phải cứng nhắc[4].
 Hình thức tu tập ta cảm thấy như rùm rà nhưng tựu chung là nó hổ trợ cho hành giả thực tập giới định tuệ được viên mãn.

5. THÁNH QUẢ TU CHỨNG CỦA TĂNG GIÀ

5.1. TỨ QUẢ THANH VĂN

 Trong xã hội Ấn độ thì có rất nhiều các trường phái tu tập khác nhau , nhưng duy nhất chỉ có giáo đoàn của đức Phật tu tập mới chứng đắc được tứ quả thanh văn. Tùy theo các chi phần kiết sử được đoạn trừ mà hành giả chứng đắc các quả vị cao thấp khác nhau.

5.1.1 Tu -đà –hoàn(Sotapatti) :Đây là quả vị đầu tiên trong bốn thanh văn, khi hành giả tu tập đoạn trừ được 3 hạ phần kiết sử là: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Quả Tu đà hoàn còn gọi là nhập lưu hay thất lai là còn tái sinh nhiều nhất bảy lần để gọt rửa phiền não trong tâm sau đó mới chứng đắc quả vị A-la-hán.
5.1.2 Tư-đà-hoàn(Sakadagami): Hay còn gọi là Nhất lai vị này đã đoạn trừ được ba hạ phần kiết sử đầu và làm muội lược được tham , sân sẽ còn một lần tái sanh nữa để tu chứng quả A la hán.
5.1.3 A-na-hàm(Angami) còn gọi là Bất lai, vị này đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử là (thân kiến , nghi , giới cấm thủ , tham , sân ), không còn tái sanh ở cõi người nữa mà tái sinh ở cõi sắc giới , vô sắc giới tu hành để đạt quả vị tối thượng.
5.1.4A-la-hán (Arahat):Đây là quả vị cao nhất trong tứ quả thanh văn, vị này đã đoạn trừ mười  kiết sử là năm hạ phần kiết sử đã nói trên và năm thượng tần kiết sử là ( hữu ái, vô hữu ái, trạo cử, mạn, vô minh).Vị A la hán còn gọi là vô sanh hay ứng cúng, là bậc đã chứng đắc quả vị Niết bàn giải thoát.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 III.Kết luận

  Sự xuất hiện của Tăng đoàn đã tạo ra tiếng vang rất lớn đối với xã hội Ấn độ lúc bấy giờ.Với lòng thương tưởng của đức Phật đối với chúng sanh nên khi Ngài chứng đạo đã không vội vã nhập Niết bàn.Ngài đã thu nhân các đệ tử đủ mọi thành phần trong xã hội , từ giai cấp Bà la môn cho đến giai cấp cùng đinh thủ đà la.Những giai cấp thấp kém trong xã hội như Sunita người quét dọn vệ  sinh, Svati người chài lưới, Nan đà kẻ chăn bò, Upali là thợ hớt tóc, Purna là con của người đàn bà nô lệ, Chapa là con người thợ săn đó là những thành phần trong giáo hội, qua đó thể hiện được tinh thần bình đẳng của Phật giáo đối với xã hội.
 Ngoài ra thì tinh thần bình đẳng về giới tính của Phật giáo có ảnh hưởng sâu đặm đối với nhân loại.Thời bấy giờ có biết bao quốc gia có sự bất công, kỳ thị về giới tính, nhất là tinh thần trọng nam khinh nữ.Đức Phật là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại cho phép người nữ xuất gia, mặc dù thể trạng và tính cách của người nữ rất khó thực hành hạnh sa môn.Vì thế Ngài đã đưa ra Bát kỉnh pháp thể cho người nữ tu tập, đây không phải là vấn đề kỳ thị đối với nữ giới mà chỉ là phương tiện để tránh những rắc rối sẽ xuất hiện và bát kỉnh pháp cũng như vòng hoa làm đẹp thêm cho giới nữ. Ngài cho phép nữ giới xuất gia vì trong hàng nữ nhơn cũng có người tu tập chứng đắc được quả vị giải thoát.
 Một xã hội còn nhiều bất công và kỳ thị ,con người luôn tìm cách làm khổ nhau, tình thương yêu và sự cảm thông  không được khuyến kích bởi do nghiệp chướng và vô minh của con người. Do đó sự hoằng dương chánh pháp để cho thế giới này được tốt đẹp hơn, xã hội được công bằng, con người sống đạo đức, an vui , không còn bạo động. Luôn sống theo lời Phật dạy thực tập tứ vô lượng tâm, dù ở bất cứ thời kỳ nào thì lối sống cao đẹp đó luôn có giá trị và nhất là xã hội ngày nay.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ kinh V, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
2. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ kinh I, II và III, Hoc viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
3. Thích Trí Tịnh dịch, Tăng già thời Đức Phật, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.
4. Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, NXB Tôn Giáo, 2002
5. . Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
6. Hòa thượng Thích Trí Quang dịch, Luật Sa Di và Sa Di Ni, 1996.
7. Thích Viên Giác, Phật học cơ bản, NXB Tôn Giáo 2003.
8. Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lich sử, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
9. Phân viện nghiên cứu Phật học, Từ điển Phật học Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, 2004.
10. Đoàn Trung Còn, Phật học từ điển, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
11. Cao Hữu Đính, Phật và thánh chúng, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
12. Thích Phước Chí, Tài liệu chuyên đề Thành lập Tăng đoàn.
13. Thích Nữ Hương Nhũ, Tài liệu chuyên đề Thành lập Tăng đoàn.



[1] Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, (2000), tr. 34 – 35.

[2] Cao Hữu Đính, Phật và thánh chúng, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, (PL. 2538 - DL. 1994), tr.82 -83.

[3] Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, NXB Tôn giáo, tr.149
[4]Sđd, tr.150.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Nhật ký của Thầy

 Hôm nay đại chúng ngồi lại với nhau để chia sẻ với nhau về phương pháp tu tập để tâm hồn được thăng hoa khi mùa an cư sắp kết thức. Đại chúng mỗi người đều trình bày về những khuyết điểm của mình trong cuộc sống.Có vị thì không kiềm chế được tâm nóng giận của mình khi gặp hoàn cảnh không tốt. Như có một lần thầy duyệt chúng đang thỉnh mõ chuẩn bị tụng thời kinh sáng thì vị chủ lễ quay đầu với cặp mắt không được thiện cảm thì vị duyệt chúng đẩy mõ không gõ nữa, để cho đại chúng bối rối khi tụng.Hành động đó đã được một vị thầy khác chia sẽ là nếu thầy duyệt chúng có được hành động đẹp hơn là nên đem cái mõ cho vị chủ lễ thỉnh thì tốt đẹp biết mấy.Cũng có vị thì phát lồ sám hối với chúng vì do duyên nghiệp mà có những hành động lời nói làm phiền lòng đại.Rất nhiều vị đã chia sẻ những niềm vui và sự tiến bộ của mình khi thực tập trong lòng thương yêu của đại chúng. Ôn viện chủ mở lời khai thị đại chúng là các thầy cần phải thực tập lòng yêu thương và hoan hỷ.Đức Phật ví đại chúng thanh tịnh như như là bụi lau, những cành lau đều đua nhau lớn lên đón ánh mặt trời.Khi một nhánh lau bị người khác nhổ lên thì cả bụi lau đều bị động.Tăng chúng cũng như thế một cá nhân thì rất yếu đuối trước ngoại cảnh cuộc đời, nhưng khi đại chúng đoàn kết cùng nhau tu tập để lớn lên thì rất hiệu quả. Mỗi người đều có những ưu điểm khuyết điểm khác nhau, vì thế mỗi cá nhân đều phải nương theo chúng tu tập, tôi cũng như thế đều nương vào chúng mà tu chứ không có gì đặc biệt.Tôi không đi công phu ban đêm với chúng vì thói quen của tôi là thức dậy vào lúc hai giờ sáng ngồi thiền, lúc đầu thì tôi ngồi ở chánh điện nhưng quí thầy đi lai nên tôi phải ngồi trong phòng. Chư tổ chế ra trú dạ lục thời để chúng ta có thời khóa biểu tu học, vì thế các thầy cần phải khắc phục cái nghiệp của mình để tinh tiến tu học.Không nên để tâm giải đãi chi phối tâm hồn mình, thời gian trôi qua như tên bắn.Thoáng chốc thì sức khỏe và đời sống của ta sẽ chấm dứt.